Phân tích tác phẩm Việt Bắc chi tiết nhất (phần 3)

Qua những áng thơ tinh tế, Tố Hữu đã thành công đã mang đến một Việt Bắc đậm đà tinh thần dân tộc, chi tiết đến từng vẻ đẹp của vùng cao Việt Nam. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết tác phẩm Việt Bắc để hiểu rõ được tính dân tộc thấm đượm qua từng câu chữ, để biết thêm về những ngày quân và dân cùng nhau kháng chiến

II. Phân tích

4. 10 câu tiếp

Thiên nhiên và con người hiện lên dáng vẻ thân thuộc, bình dị, thấm đượm tình tương và nỗi nhớ của người đi.

  1. 2 câu đầu: cảm xúc chung của đoạn thơ

Đây là hai câu giới thiệu nội dung bao quát cả đoạn:

                                                “Ta về mình có nhớ ta

                                    Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

+ Câu hỏi “mình có nhớ ta” vừa là lời đối thoại, vừa là cái để bày tỏ tình cảm, tấm lòng của mình. Hai câu thơ đầy ắp những yếu tố điệp “ta – mình” cho thấy ta với mình luôn ở trong lòng nhau, và nỗi lưu luyến nhớ thương cứ vương vấn quấn quýt.

+ “Hoa cùng người”, hoa có thể hiểu là hình ảnh hoán dụ cho vẻ đẹp thiên nhiên, người là người dân Việt Bắc. Khi về xuôi, người kháng chiến da diết nhớ về nơi đây. Trong nỗi nhớ của người đi, thiên nhiên và con người không tách rời mà luôn hòa quyện gắn bó, điều đó thể hiện ở từ “những – cùng” một cách hài hòa, đằm thắm.

  1. 8 câu cuối: bức tranh tứ bình về cảnh và người Việt Bắc.

– Mùa đông:

                                                “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

                                            Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

+ Đông về với màu xanh trầm mặc. Hai chữ rừng xanh gợi ra chiều rộng mênh mông của rừng, chiều cao ngút ngàn của đồi núi, bầu trời, trên nền xanh thẳm hùng vĩ của rừng đại ngàn là sắc đỏ tươi nổi bật của hoa chuối, tạo cảm giác chói chang ấm áp tựa một ngọn lửa thắp sáng và xua tan đi cái lạnh của núi rừng mùa đông, làm cho thiên nhiên nơi đây trở nên tươi sáng, tràn đầy sức sống.

+ Ánh nắng trên đèo cao càng làm khu rừng sáng và ấm hơn, thiên nhiên Việt Bắc cũng vì thế mà mở rộng và phóng khoáng hơn. Sự kết hợp giữa màu sắc và ánh sáng khiến mùa đông nơi đây trở nên rực rỡ, khiến cho trong nỗi nhớ nhung của người đi, sự khắc nghiệt đã được thay thế bằng vẻ đẹp thơ mộng tràn đầy sức sống.

+ Con người: Trên nền thiên nhiên ấy là hình ảnh con người của vùng chiến khu lên núi phát nương làm rẫy, sản xuất nhiều hoa lúa để cung cấp cho kháng chiến. Người Việt Bắc hiện ra trong nỗi nhớ với một nét chấm phá đầy ấn tượng với hình ảnh “dao gài thắt lưng”. Với vóc dáng lồng lộng trên đèo cao đầy nắng, tầm vóc con người trở nên hoành tráng, càng làm tăng lên sự cảm phục, yêu mến trong lòng người đi. Tác giả không miêu tả gương mặt mà ghi nhận một nét thần tình trong vẻ đẹp của con người đó là khoảnh khắc ánh mặt trời chớp lóe, cùng lưỡi dao đi rừng ở ngang lưng, qua đó muốn khẳng định con người như một tụ điểm của ánh sáng. Với tư thế chủ động đầy kiêu hãnh ấy, con người ấy trở thành linh hồn của bức tranh thiên nhiên Việt Bắc.

– Mùa xuân:

                                                “Mùa xuân mơ nở trắng rừng

                                        Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

+ Cảnh mùa xuân được miêu tả trong gam màu dịu mát, tinh khiết của hoa mơ. Phép đảo ngữ “trắng rừng” mang lại ấn tượng về khu rừng Việt Bắc mênh mông trắng xóa sắc hoa mơ.

+ Tính từ “trắng” dùng như một động từ cảm nhận màu trắng lấn át cả màu xanh của lá và làm bừng trắng khu rừng. Động từ “nở” cho thấy sức sống sinh sôi tràn trề của núi rừng mùa xuân.

+ Hình ảnh con người hiện lên với công việc “đan nón”, họ làm nên những chiếc nón nghĩa tình để tặng bộ đội dân công.

+ Động tắc “chuốt từng sợi giang” cho thấy rõ hơn vẻ đẹp của người lao động cần mẫn, tinh tế, tỉ mỉ qua đó cũng thấy được sự tần tảo của người dân Việt Bắc. Đó cũng là nét đáng yêu, đáng nhớ của người Việt Bắc mãi in đậm trong lòng người ra đi.

– Mùa hè: Mùa hè hiện lên tràn đầy âm thanh và màu sắc

                                                “Ve kêu rừng phách đổ vàng

                                            Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Câu thơ miêu tả âm thanh của tiếng ve và màu vàng của rừng phách. Ve kêu vang lên báo hiệu hè đã tới, động từ “đổ” miêu tả sự chuyển màu đột ngột, nhanh chóng của bức tranh thiên nhiên đưa đến cảm giác ngỡ ngàng.

+ Đặc biệt là Tố Hữu đã dùng âm thanh để đánh thức sắc màu, đem đến sự tương quan kì diệu của thiên nhiên khiến ta có cảm nhận cảnh vật như có linh hồn và sự giao cảm. Bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hoài niệm nên rất rực rỡ, lung linh. => Tố Hữu tài hoa trong cả việc miêu tả vận động của thời gian và cảnh vật.

+ Hiện lên trong màu vàng rực rỡ ấy là hình ảnh cô gái hái măng, đó là vẻ đẹp của con người trong lao động. “Em gái” là cách gọi thân thương, “hái măng” là công việc lao động thường nhật, măng là nguồn thực phẩm không thể thiếu để cung cấp cho bộ đội và kháng chiến. “Hái măng một mình” không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn mà lại rất trữ tình, gần gũi, thân thương. Hình ảnh thơ cũng gợi lên vẻ chịu thương chịu khó. Như vậy, đằng sau vẻ đẹp của thiên nhiên và con người là biết bao niềm thương yêu trân trọng của tác giả.

– Mùa thu:

Khung cảnh núi rừng nơi chiến khu như tắm trong ánh trăng dịu mát:

                                                “Rừng thu trăng rọi hòa bình

                                         Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

+ Mùa thu được phác họa trong gam màu dịu mát của ánh trăng.

+ Động từ “rọi” miêu tả nguồn ánh sáng tập trung chiếu xuống cánh rừng. Cách dùng này giúp nhà thơ miêu tả chính xác ánh trăng soi chiếu xuống rừng thu đồng thời thể hiện cảm xúc của con người: núi rừng Việt Bắc là vùng đất của tự do, hòa bình.

+ Mùa thu ngọt ngòa hơn với tiếng hát. Ánh trăng là hình ảnh cuộ sống hòa bình, tiếng hát vang lên giữa rừng dưới ánh trăng càng làm đầm hơn cảm giác thanh bình, vui tươi ấy.

+ Nếu bức tranh mùa đông, xuân, hè diễn ra vào ban ngày thì mùa thu lại vào ban đêm và nếu ở những bức tranh trên nhà thơ hướng nỗi nhớ đến con người lao động cụ thể thì ở mùa thu với cụm từ “nhớ ai” khiến hình ảnh con người mờ đi, chỉ có nỗi nhớ là sâu đậm, đó là tình cảm ân tình, thủy chung, son sắc.

+ Câu thơ cuối cho thấy sự đồng vọng tương ứng của kẻ ở và người đi trong một khúc hát ân tình thủy chung.

Tóm lại: Đoạn thơ trên vừa sâu sắc về nội dung, vừa độc độc đáo về nghệ thuật, xứng đáng là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ. Đoạn thơ cho thấy rõ về phong cách tác giả vừa trữ tình chính trị, vừa sâu lắng tha thiết, mang tính dân tộc.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.