Phân tích tác phẩm Việt Bắc chi tiết nhất (phần cuối)

Qua những áng thơ tinh tế, Tố Hữu đã thành công đã mang đến một Việt Bắc đậm đà tinh thần dân tộc, chi tiết đến từng vẻ đẹp của vùng cao Việt Nam. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết tác phẩm Việt Bắc để hiểu rõ được tính dân tộc thấm đượm qua từng câu chữ, để biết thêm về những ngày quân và dân cùng nhau kháng chiến

II. Phân tích

5. 10 câu tiếp: Thiên nhiên Việt Bắc cùng con người đánh giặc

– Thiên nhiên núi rừng Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp sát cánh với con người:

                                                         “Nhớ khi giặc đến giặc lùng

                                                     Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

                                                      “Núi giăng thành luỹ sắt dày

                                                   Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”

Việt Bắc che chắn bộ đội, khiến cho quân thù không phát hiện được. Mặt khác “rừng cây núi đá” cũng đã tạo thành một thiên la địa võng, khiến cho quân thù nhanh chóng bị tiêu diệt đúng như lời khẳng định của Tố Hữu “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.

– Hai câu thơ tiếp đã nói lên sức mạnh của rừng núi quê hương.

 “Mênh mông bốn mặt sương mù

   Đất trời ta cả chiến khu một lòng.”

+ Biện pháp đối “mênh mông bốn mặt” và “một lòng” có tác dụng nhấn mạnh dự đồng lòng nhất trí trong kháng chiến vì thế “lũy sắt dày” và “bốn mặt sương mù” đã mang một ý tưởng mới, chúng trở thành biểu tượng của trận địa lòng dân, là của đất trời sông núi.

– Tóm lại, kỉ niệm về cuộc kháng chiến oanh liệt hào hùng đã được nhà thơ tái hiện qua bức tranh thiên nhiên rộng lớn, kì vĩ của những ngày Việt Bắc cùng rừng núi vùng lên đánh giặc.

+ Đại từ “ta” góp phần thể hiện mối đoàn kết, sức mạnh đồng lòng, làm tăng lên tầm vóc sử thi cho hình tượng thơ.

+ Yếu tố trùng điệp của ngôn từ + động từ “đánh, giăng, che, vây” đem đến sắc thái nhân hóa cho rừng núi, tạo cảm giác núi rừng cũng đang góp sức vào cuộc kháng chiến cùng con người tạo thành sức mạnh to lớn để tiêu diệt kẻ thù.

– 4 câu sau:

“Ai về ai có nhớ không?

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà…”

Bằng nỗi nhớ, người đi đã khẳng định tình cảm hướng về những địa danh như phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Nhị Hà. Đó là những địa danh gắn với các trận đánh, các chiến dịch lịch sử.

+ Nhịp thơ dồn dập như miêu tả khí thế thần tốc hào hùng của quân ta trong các chiến tháng oanh liệt.

+ Điệp từ “nhớ” lặp lại 6 lần cho thấy nỗi nhớ hòa quện với niềm phấn khích của chiến thắng đang ào ạt trào dâng trong hoài niệm, qua đó thể hiện niềm tự hào về cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi vẻ vang.

6. 12 câu tiếp: Bức tranh Việt Bắc xuất quân.

– Khung cảnh sôi động của cuộc kháng chiến được Tố Hữu tập trung miêu tả qua dòng hoài niệm về hình ảnh những con đường Việt Bắc ban đêm:

                                                “Những đường Việt Bắc của ta

                                             Đêm đêm rầm rập như là đất rung”

Câu thơ chan chứa niềm tự hào và cảm giác được làm chủ. Chúng ta đang chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công, đang làm chủ chiến trường Việt Bắc cả về tinh thần và lực lượng, vì vậy đoàn quân ta đã xuất phát từ mọi ngả đường Việt Bắc. Cảm hứng về tư thế làm chủ và tư thế tấn công bao vây kẻ thù được thể hiện qua cụm “những đường Việt Bắc của ta”.

+ Trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta phần lớn phải hàn quân vào ban đêm để tránh máy bay giặc vì thế trên các nẻo đường Việt Bắc đêm đêm các binh đoàn cứ nối nhau rầm rập tiến quân ra trận.

+ Các từ láy “đêm đêm”, “rầm rập” tạo âm hưởng hùng tráng, có tác dụng diễn tả những bước chân đi đầy khí thế với sức mạnh đông đảo.

+ Biện pháp so sánh “như là đất rung” rất độc đáo đã diễn tả được những đoàn quân ra trận với khí thế mạnh mẽ làm rung chuyển mặt đất.

+ Cảm hứng sử thi đã khiến con người nâng lên ngang tầm vóc vũ trụ.

– 2 câu tiếp:

                                                “Quân đi điệp điệp trùng trùng

                                            Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

+ Từ láy “điệp điệp”, “trùng trùng” gợi lên hình ảnh những đoàn quân ra trận nối nhau dài vô tận và rất hùng vĩ như những dãy núi kề tiếp nhau.

+ Câu thơ “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” thể hiện vẻ đẹp vừa chân thực, vừa lãng mạn. Chân thực vì đoàn quân đi trong đêm, đầu súng lấp lánh dưới ánh sao trời, lãng mạn vì đó không còn là ánh sao tự nhiên đơn thuần, mà đó là ánh sao sáng của lí tưởng. Người lính được soi sáng bằng ánh sao sáng của độc lập tự do.

+ Hình ảnh ánh sao lãng mạn kết hợp với hình ảnh chiếc mũ nan giản dị, còn bị thiếu thốn của các anh bộ đội đã tạo cho họ một vẻ đẹp bình dị mà cao cả, bình thường mà vĩ đại.

– 2 câu tiếp:

                                                “Dân đi đỏ đuốc từng đoàn

                                        Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

Cũng như những người chiến sĩ rầm rập lên đường, những người dân công cũng vào trận đầy khí thế với sức mạnh anh hùng.

+ Đảo ngữ “đỏ đuốc, nát đá” đã đem đến ấn tượng về sự đông đảo, sức mạnh, niềm vui ánh sáng. Cách mạng trở thành ngày vui của toàn dân. Những đoàn dân công vận chuyển lương thực phục vụ chiến trường nối tiếp nhau đi trong đêm, những ánh đuốc soi đường tạo thành cảnh tượng hoành tráng. Những bó đuốc của lửa cũng chính là ảnh lửa từ trái tim, của những anh hùng thời đại kháng chiến.

+ Hình ảnh “bước chân nát đá” ca ngợi sức mạnh phi thường của những doàn dân công nối tiếp nhau ngày đêm tải đạn ra chiến trường.

+ Hình ảnh thơ mang đậm tính sử thi, khắc họa ý chí kiên cường của những con người dũng cảm vượt lên khó khăn, gian khổ, thử thách.

– 2 câu tiếp:

                                                “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

                                                Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

Hai câu thơ miêu tả đoàn xe chở đạn dược vũ khí ra chiến trường, xe nối đuôi nhau, đèn pha bật sáng như ánh sáng ban ngày. Chỉ bằng hình ảnh ấy đã diễn tả đông đảo lực lượng cơ giới của quân dân ta. Hai câu thơ tràn đầy niềm tự hào, tin tưởng về tương lai tươi sáng

+ NT đối lập “nghìn đêm thăm thẳm >< đèn pha bật sáng” nêu lên được sự trưởng thành vượt bậc của quân dân ta.

+ Hình ảnh so sánh có thể hiểu ánh sáng của đèn pha ẩn dụ cho ánh sáng bình minh ngày mới tươi sáng.

+ Khuynh hướng sử thi đã gắn kết sâu sắc với cảm hứng lãng mạn đã làm tăng thêm sức mạnh cho những con người đang chiến đấu ngay trong gian khổ nguy nan.

– 4 câu tiếp:

Kết quả của những đêm dài gian truân  vất vả chính là chiến thắng

                                                “Tin vui chiến thắng trăm miền

                                          Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

                                                Vui từ Đồng Tháp, An Khê

                                          Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Với khí thế ra trận hùng tráng, chiến công nối tiếp chiến công là điều tất nhiên. Tin vui chiến thắng trăm miền dồn dập đổ về Việt Bắc, vì thế từ “vui” xuất hiện trong tất cả các dòng thơ.

+ Động từ “vui” lặp lại “vui về, vui từ, vui lên” kết hợp với nhịp thơ nhanh, mạnh, sảng khoái đã thể hiện được sinh động không khí náo nức, mê say của quân dân Việt Bắc ngày chiến thắng.

+ Những địa danh liên tiếp hiện ra theo bước chân chiến thắng như “ Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”. Đây là những nơi đã diễn ra những trận đánh oanh liệt, ghi lại những chiến dịch lớn trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp.

=> Toàn bộ đoạn thơ là hình ảnh của Việt Bắc ra trận, ở đó đọng lại trong hoài niệm của nhà thơ là những con đường Việt Bắc và bước chân mạnh mẽ của quân dân ta. Những bức tranh rộng lớn hùng tráng mạnh mẽ, đậm chất sử thi là những hình ảnh thực về những con đường ra trận, biểu tượng sâu sắc cho con đường cách mạng, những gian truân và oanh liệt. Trên con đường ấy, những con người cách mạng mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm kiên cường, bất khuất, vượt qua mọi khó khăn để chiến thắng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.