Phân tích tác phẩm Việt Bắc cụ thể nhất (Phần 1)

“Mỗi nhân vật phải gắn với một dân tộc nhất định, một thời đại nhất định. Vì nếu con người không có tính dân tộc không phải là con người thực sự mà là một khái niệm trừu tượng. Vì vậy mà rõ ràng tính dân tộc trong tác phẩm không phải là một thành tích mà là một thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo”. Và Tố Hữu đã hoàn toàn thành công làm được điều đó, qua những áng thơ tinh tế, ông đã mang đến một Việt Bắc đậm đà tinh thần dân tộc, chi tiết đên từng vẻ đẹp của vùng cao Việt Nam.

I. Tác giả, tác phẩm

  1. Tố Hữu

– Phong cách thơ:

+ “Thơ Tố Hữu là thơ của một chiến sĩ cách mạng, thơ của một nhà cách mạng làm thơ” – Xuân Diệu.

+ Thơ ông tiếp nối được truyền thống thơ ca đầu thế kỉ và nâng cao thành dòng thơ trữ tình chính trị của thời đại mới, do đó thơ Tố Hữu có một phong cách khá hấp dẫn.

– Là nhà thơ trữ tình chính trị:

+ Ông là nhà thơ đồng thời là nhà cách mạng, vì vậy đối với ông, thơ trước hết phải là phương tiện đặc lực phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho nhiệm vụ chính trị, được hình thành trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Với Tố Hữu, thơ chính trị đã trở thành thơ trữ tình sâu sắc. Những vấn đề mà nhà thơ đề cập đến chủ yếu trên phương diện chính trị, ông ca ngợi lí tưởng, ca ngợi những con người mang lí tưởng cộng sản, biểu dương những tình cảm cách mạng. ca ngợi cách mạng đất nước. Những vấn đề chính trị ấy trở thành nguồn cảm hứng, cảm xúc chân thực và là lẽ sống, niềm tin được diễn đạt bằng những tâm tình bằng ngôn ngữ của tình yêu, tình bạn, tình đồng chí một cách tự nhiên.

+ Bao trùm lên thơ TH là vấn đề lí tưởng, lẽ sống cách mạng, cộng sản. TH trước cách mạng luôn khẳng định lẽ sống của con người là con đường cách mạng. Đó là con đường duy nhất để giải thoát cá nhân khỏi áp bức đau khổ. Về sau, TH chủ yếu đọc vấn đề lẽ sống của dân tộc đi liền với lẽ sống là những tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người, cách mạng, dân tộc như niềm say mê lí tưởng, tình đồng chí, tình cảm với Đảng, với Bác.

– Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi:

+ Chủ yếu đề cập đến những vấn đề có tính chất lịch sử, có yếu tố toàn dân.

+ Cái tôi trữ tình trong thơ TH từ buổi đầu là cái tôi chiến sĩ, về sau là cái tôi nhân dân, dân tộc.

+ Nhân vật trữ tình là những con người đại diện cho phong cách dân tộc, mang tầm vóc lịch sử thời đại.

+ Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng lịch sử, dân tộc chứ không phải cảm hứng thế sự đời tư, nổi bật lên trong thơ TH là vận mệnh dân tộc chứ không phải sản phẩm cá nhân.

– Về nghệ thuật: đậm đà tính dân tộc

+ Thể thơ: TH thường sử dụng các thể thơ mang đậm tính truyền thống của dân tộc như lục bát,…và song thất lục bát.

+ Kết cấu mang tính dân tộc: Lối đối đáp trao duyên, lối kể, lối diễn ca.

+ Hình ảnh mang tính dân tộc, gần gũi giản dị.

+ Ngôn ngữ mang tính dân tộc: dùng từ quen thuộc của dân tộc. Những lối nói so sánh, ví von truyền thống.

+ Nhịp điệu: giàu nhạc điệu, ngắt nhịp, hiệp vần, từ láy, NT tiểu đối.

=> Tạo nhịp điệu phong phú, diễn tả chiều sâu, nhịp điệu cảm xúc của tâm hồn dân tộc. Đây là nhịp điệu ngọt ngào, tha thiết ân tình.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác:

Tháng 10/ 1954, nhân cuộc chia tay giữa cán bộ cách mạng với nhân dân Việt Bắc.

b. Bố cục:

Nội dung lớn: 2 phần

– Phần 1: Tái hiện những kỉ niệm của cách mạng khi kháng chiến ở Việt Bắc

– Phần 2: Gợi cảnh tươi sáng của đất nước, ngợi ca công lao của Bác

 Bố cục nhỏ:

– Phần 1: Từ đầu -> “hôm nay”

– Phần 2: Tiếp -> “cây đa”

– Phần 3: Tiếp -> “suối xa”

– Phần 4: Tiếp -> “thủy chung”

– Phần 5: Tiếp -> “ Nhị Hà”

– Phần 6: tiếp -> “núi Hồng”

II. Phân tích

1. 8 câu đầu:

a. 4 câu đầu: là khúc ân tình thủy chung, là niềm trăn trở của người ở lại với người ra đi.

– Qua hai cặp lục bát, là những nỗi niềm thiết tha thể hiện qua hai câu hỏi tu từ, qua đó khẳng định nỗi nhớ nhung về khoảng thời gian gắn bó giữa mình và ta, bằng tình cảm mặn nồng, và niềm trăn trở rằng, người về xuôi rồi có nhớ ta, nhớ núi, nhớ nguồn.

– Cặp đại từ “mình – ta” quen thuộc trong ca dao vốn chỉ tình yêu đôi lứa, khẳng định tình cảm cách mạng gắn bó thiết tha mặn nồng. Mượn hình thức ngôn từ của ca dao để gửi những tình cảm lớn lao của thời đại, những câu hỏi xao xuyến của nghĩa tình cách mạng thể hiện nỗi nhớ nhung của người ở lại với người về xuôi.

– Sử dụng phép đối lập trong ca dao khiến nỗi nhớ thêm miên man, da diết, tạo âm hưởng day dứt rằng liệu người ra đi có giữ được tấm lòng thủy chung với người ở lại, với Việt Bắc hay không?

– Hai câu thơ có tới bốn chữ “mình”, và một chữ “ta” nói lên rằng hình ảnh người ra đi chiếm trọn trong tâm trí, nỗi nhớ người ở lại.

– Động từ “nhớ” lặp lại 4 lần, mỗi lần đều có sắc thái riêng, nhớ người, nhớ cảnh “núi – nguồn”. Khẳng định nỗi nhớ và sự gắn bó giữa mình và ta.

– Cụm từ “mười lăm năm ấy” gợi nhắc khoảng thời gian gắn bó từ năm 1940 đến khi có được thắng lợi năm 1954 – khoảng thời gian Việt Bắc trở thành căn cứ địa của cách mạng, nơi mình và ta đã nặng nghĩa ân tình sâu nặng, với bao thiết tha mặn nồng.

– Nỗi nhớ ấy không chỉ gợi ra ở thời gian, mà còn gợi ra trong không gian gắn bó:

                                                “Mình về mình có nhớ không

                                      Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”

Hai vế tiểu đối đan xen hình ảnh của miền xuôi (cây, sông) và miền ngược (núi, nguồn). Sự chia xa, nỗi nhớ, sự gắn bó được thể hiện trong hình thức ngôn từ  “nhìn cây, nhìn sông” là nét đặc trưng của miền xuôi, khi người về, còn nhớ núi, nhớ nguồn chính là còn nhớ Việt Bắc hay không. Câu thơ thể hiện mối tương quan giữa thực tế và mong đợi, từ đó thể hiện nỗi trăn trở, bên cạnh đó còn nói lên những suy nghĩ sâu xa về đạo lý nguồn cội: ân tình cách mạng, uống nước nhớ nguồn.

b. 4 câu sau: Khung cảnh buổi tiễn đưa bịn tịn, luyến lưu.

– 2 câu đầu:

                                                “Tiếng ai tha thiết bên cồn

                                    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”

+ Câu thơ “tiếng ai tha thiết bên cồn” đem đến cảm nhận về nỗi nhớ nhung, xao xuyến, những day dứt trong lòng người ở lại.

+ Đại từ “ai” phiến chỉ không xác định khiến câu thơ có nét nghĩa mơ hồ, như tưởng đó còn là những âm thanh vang vọng của cây cỏ của núi rừng Việt Bắc, cộng hưởng với tấm lòng người ở lại. Những âm thanh ấy cứ quấn quýt, vương vấn khiến người đi “bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”. Nghệ thuật tiểu đối cho thấy sự đồng điệu trong cảm xúc con người.

+ “Bâng khuâng” là từ láy gợi ra cảm xúc mơ hồ, khó tả, trộn lẫn nhiều cảm xúc. “Bồn chồn” là tâm trạng thấp thỏm, không yên được biểu hiện qua hành động “bước đi” vì thế, câu thơ không chỉ thể hiện nỗi bịn rịn trong lòng mà còn được gợi tả được cả những bước chân ngập ngừng, lưu luyến của người đi.

– 2 câu sau:

                                                “Áo chàm đưa buổi phân ly

                                          Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

+ Nếu trong phút chia ly “tiếng ai” là tiếng lòng người ở lại đang tha thiết được người đi cảm nhận thì hình ảnh “áo chàm” lại rất cụ thể và chân thực.

+ “Áo chàm” là biểu tượng đơn sơ về hình ảnh người dân Việt Bắc nghèo khổ mà nghĩa tình trong nỗi nhớ của người ra đi. Đây là một hoán dụ, vừa gợi ra trang phục đặc trưng của người Việt Bắc, vừa khắc họa tính cách giản dị, tấm lòng son sắc của họ với kháng chiến. => Niềm cảm phục thương mến của người đi với người Việt Bắc.

+ “Cầm tay nhau” chưa chan ân tình sâu đậm, trong sự lặng im không nói nên lời vì “biết nói gì hôm nay”. Nhịp thơ 3/3/2 thể hiện sự bâng khuâng, bồn chồn, day dứt.

          => Bốn câu thơ đã miêu tả cảnh chia tay giữa người dân Việt Bắc với người lính kháng chiến. Từ nỗi bâng khuâng trong tâm trạng, sự ngập ngừng trong bước chân đến cử chỉ cầm tay nhau thân thương, trìu mến và cả những lặng im không nói nên lời. Bốn câu thơ là sự đồng vọng, nhớ nhung của người về xuôi với người ở lại, vừa tái hiện thành công tình cảm gắn bó, cảnh tiễn đưa bịn rịn lưu luyến của nghĩa tình trong ngày chiến thắng.

– NT: Điệp từ, câu hỏi tu từ, nghệ thuật tiểu đối, cách ngắt nhịp độc đáo, sử dụng lối đối đáp quen thuộc của ca dao, cặp đại từ “mình ta”, từ láu gợi hình diễn tả tâm trạng, hoán dụ kết hợp màu sắc cổ điển (tâm trạng nhớ nhung bịn rịn, áo chàm chia ly) và hiện đại (tinh thần bịn rịn lưu luyến nhưng không buồn thương) vì đây là tâm thế của người vừa làm nên chiến thắng, họ bịn rịn lưu luyến và mong có ngày gặp lại.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.