Phân tích tác phẩm Việt Bắc cụ thể nhất (Phần 2)

Qua những áng thơ tinh tế, Tố Hữu đã thành công đã mang đến một Việt Bắc đậm đà tinh thần dân tộc, chi tiết đến từng vẻ đẹp của vùng cao Việt Nam. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết tác phẩm Việt Bắc để hiểu rõ được tính dân tộc thấm đượm qua từng câu chữ, để biết thêm về những ngày quân và dân cùng nhau kháng chiến

II. Phân tích

2. 12 câu tiếp: Lời của người ở lại gợi nhớ những kỉ niệm khó khăn, gian khổ nhưng sâu nặng nghĩa tình.

– Sau khi dàn dựng xong khung cảnh chia tay, TH đã để cho người ở lại lên tiếng. Đoạn thơ này là tiếng trong lòng của người ở lại với những cảm xúc về sự chia ly như một nỗi đau day dứt toát lên từ trái tim được buột ra thành những câu hỏi đầy băn khoăn trong 6 cặp thơ lục bát. Đoạn thơ gồm 6 câu hỏi của người ở lại đối với người ra đi. Những câu thơ hỏi cứ dồn dập gấp gáp bởi nỗi nhớ trào dâng khi giờ phút chia tay đến gần. Chỉ 12 câu thơ nhưng đều xoáy sâu vào kỉ niệm của những ngày cách mạng còn non yếu. Tuy lắm gian nan cơ cực nhưng thắm thiết nghĩa tình tươi vui. Đoạn thơ lặp lại cấu trúc hỏi “mình về/đi có nhớ” nhưng thật ra người ở lại đã biết rất rõ tâm trạng người ra đi cũng trĩu nặng nhớ thương về những năm tháng kháng chiến không thể nào quên. Đoạn thơ có sự thay đổi nhịp nhàng trong điệp ngữ “mình đi có nhớ” “mình về có nhớ” kết hợp với NT tiểu đối 4/4 đã có tác dụng tạo nên nhịp điệu ngân nga cho đoạn thơ và nhịp điệu này góp phần thể hiện nỗi vấn vương xao xuyến trong lòng của cả người ở lại và người ra đi đồng thời diễn tả kỉ niệm của quá khứ đang trào dâng.

– Trong những lời nhắc kỉ niệm của người ở lại với người ra đi, Việt Bắc đã hiện lên qua điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Đó là những ngày “mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù”, đó là những ngày kháng chiến gian khổ thiếu thốn với “miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”. Những câu hỏi tha thiết “mình đi có nhớ” “mình về có nhớ” của người ở lại đã làm rõ sự gắn bó sâu nặng giữa mình và ta, giữa đồng bào Việt Bắc và những người kháng chiến, họ đã cùng nhau vượt qua điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, cùng nhau chia sẻ gian khổ, thiếu thốn những nhau miếng cơm chấm muối chia sẻ những tâm tư nỗi niềm sâu kín khi chung mối thù nặng vai. Sự chia sẻ những khó khăn trong kháng chiến tạo nên sự gắn bó sâu nặng trong hiện tại và nghĩa tình thủy chung trong tương lai. Gian truân vất vả chỉ càng làm ngời lên vẻ đẹp trong tâm hồn họ nhất là tấm lòng người dân Việt Bắc với kháng chiến.

– Trong nỗi nhớ với những dòng hoài niệm người Việt Bắc hiện lên nghèo khổ mà sắc son với cách mạng với kháng chiến. Đã từng gắn bó ân tình suốt 15 năm với kháng chiến vì vậy khi chia biệt càng làm tăng  thêm nỗi nhớ nhung.

“Mình về rừng núi nhớ ai

   Trám bùi để rụng măng mai để già”

Hai câu thơ gợi hình ảnh thiên nhiên gắn bó với đời sống sinh hoạt kháng chiến giờ cách xa chũng cũng như mang hồn người trở nên ngẩn ngơ buồn vắng. Câu thơ “mình về mình có nhớ ai” mang hình thức một câu hỏi nhưng không dùng để hỏi người đi mà dùng để thể hiện tấm lòng người ở lại. “Rừng núi” là hoán dụ cho ngườ dân Việt Bắc ở lại “ai” chính là người ra đi, “trám bùi măng mai” là những sản vật của núi rừng. Phép điệp “để rụng để già” gợi lên hình ảnh cuộc sống núi rừng như ngưng đọng trống trải bởi người đi rồi. Qua đó đã cho thấy người đi đã để lại một khoảng trống trong lòng người Việt Bắc.

– Sự gắn bó khiến họ thêm thấu hiểu thông cảm vì vậy câu hỏi:

                         “Mình đi có nhớ những ngày

                    Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”

Là một lời nhắc nhớ với người ra đi xin đừng bao giờ quên những người nghèo khổ mà son sắc nghĩa tình một lòng đi theo cách mạng. “Nhà” là hoán dụ cho con người, “hắt hiu lau xám” là hình ảnh gợi tả không gian hoang vắng của núi rừng vừa gợi cuộc sống nghèo khổ của người dân nơi đây. “Đậm đà lòng son” là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi nghĩa tình của người Việt Bắc. Biện pháp đảo ngữ “hắt hiu” lên trước câu thơ càng làm nổi rõ tấm lòng cao quý của người dân VB với cán bộ cách mạng. Hoàn cảnh càng gian nan thiếu thôn thì lòng dân với cách mạng càng son sắc gắn bó. Thật cảm động biết bao.

– Người ở lại đã gợi nhắc những kỉ niệm cùng kề vai sát cánh bên nhau trong những năm kháng chiến ác liệt từ thời mặt trận Việt Minh tới 9 năm kháng chiến chống Pháp:

“Mình đi mình có nhớ mình

  Tân trào, hồng thái, mái đình, cây đa”

Câu thơ đầu tiên từ “mình” xuất hiện ba lần có tính đa nghĩa “mình” vừa là người ra đi vừa là trung tâm chủ thể trữ tình khẳng định tấm lòng gắn bó sắc son của người dân Việt Bắc với cách mạng kháng chiến. Đó cũng chính là lí do của tình yêu nỗi nhớ và đạo lý thủy chung trong lòng người đi. Các địa danh có giá trị lịch sử to lớn, chúng được đồng nghĩa với chính mình. Vì vậy người cán bộ xưa chỉ xa cách về không gian nhưng không có sự xa cách trong tâm hồn. Từ nay “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” đã trở thành một phần máu thịt trái tim của người ra đi.

=> Sáu cặp câu lục bát nói trên đã đươc tác giả sử dụng cách ngắt nhịp đều đặn, vận dụng nghệ thuật tiểu đối một cách linh hoạt làm cho đoạn thơ có tính nhạc giéo giắt, ngân vang dễ thấm vào lòng người đọc. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, đảo ngữ, điệp cấu trúc, lời thơ giản dị gần gũi phảng phất màu sắc cổ điển đem đến màu sắc dân tộc đậm đà trong hình thức biểu hiện của thơ ca góp phần tạo nên thành công của bài thơ.

3. 22 câu tiếp: Lời của người ra đi.

a. Bốn câu đầu:

“Ta với mình, mình với ta

  Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”

– Là tình cảm gắn bó với người Việt Bắc. Nhà thơ đã thể hiện tình cảm gắn bó với người Việt Bắc. Hình ảnh thơ thay đổi luân phiên qua các cặp đại từ “mình – ta”, “ta – mình” quấn quýt, không thể tách rời. Câu thơ chia làm hai vế tiểu đối kết hợp với từ “với” như một thứ keo bền chặt khắng khít, thể hiện tình cảm thắm thiết không rời, qua đó khẳng định tình cảm sắc son của người ra đi: “Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”. Cụm từ “sau – trước” gợi ra khoảng thời gian gắn bó đồng thời khẳng định sự thủy chung, sống có trước có sau. Vì thế, tình cảm giữa họ càng ngày càng thêm mặn mà, đinh ninh chắc chắn không thay đổi.

– Hai câu sau như một lời thề thủy chung:

“Mình đi, mình lại nhớ mình

       Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…”

Việc sử dụng đại từ “mình”, nhà thơ đã khẳng định tình cảm không bao giờ quên nghĩa tình của Việt Bắc, không bao giờ quên quá khứ đẹp đẽ, không bao giờ đánh mất chính mình. Hình ảnh “nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” đã nhấn mạnh mức độ của nỗi nhớ, vốn là một khái niệm trừu tượng.

=> Nhà thơ định lượng được nỗi nhớ như nước trong nguồn, đồng thời gợi được những suy ngẫm sâu xa về cội nguồn, về đạo lí thủy chung “uống nước nhớ nguồn”.

b. 6 câu tiếp: nỗi nhớ sâu đậm với vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng

Sáu câu thơ là ba cặp lục bát đều được bắt đầu bằng từ “nhớ” tha thiết. Nỗi nhớ được miêu tả qua hình ảnh “nhớ gì như nhớ người yêu”, nhớ người yêu là nỗi nhớ nồng nàn, khắc khoải nhất, luôn thường trực trong lòng. Qua hình ảnh so sánh, nhà thơ đã bộc lộ sự gắn bó sâu nặng, nỗi nhớ thương của người về con người Việt Bắc. Thiên nhiên Việt Bắc qua nỗi nhớ đó cũng thấm đẫm hương vị của tình yêu, từng cảnh vật hiện ra khi thơ mộng với ánh săng, thấp thoáng nơi đầu núi, khi lại ấm áp nhạt nhòa trong “nắng chiều lưng nương”, có lúc mơ hồ huyền ảo với những bản khói cùng sương và nồng đượm ân tình trong sự quấn quýt với con người “sớm khuya bếp lửa”:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

     Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

         Nhớ từng bản khói cùng sương

     Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.”

Tất cả những phạm vi không gian ấy đầy ắp những kỉ niệm, trở thành một phần máu thịt trong tâm hồn người ra đi.

“Nhớ từng rừng nứa bờ tre

   Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

Nỗi nhớ của người ra đi còn vấn vương từ những vật vô tri tầm thường nhất “Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê”, đến những vật không tên như rừng nứa, bờ tre. Tất cả đều in đậm trong nỗi nhớ ấy.

+ Động từ “nhớ” và “nhớ từng” cho thấy sự da diết, sâu đậm của người đi không chỉ là với những cảnh vật cụ thân thuộc, mà còn là nỗi nhớ bao trùm trọn vẹn với tất cả những gì thuộc về Việt Bắc.

c. 6 câu tiếp: nỗi nhớ về cuộc sống sinh hoạt thời kháng chiến gian khổ mà ấm áp nghĩa tình.

“Ta đi, ta nhớ những ngày

    Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…”

Như để trả lời câu hỏi tha thiết của người dân Việt Bắc “mình đi có nhớ những ngày” thì người ra đi đã đáp lại “ta đi ta nhớ những ngày”, đó là những ngày gian khổ ấm áp nghĩa tình đắng cay ngọt bùi trong suốt 15 năm kháng chiến.

“Thương nhau, chia củ sắn lùi

       Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.”

Hình ảnh thơ mộc mạc, chân thực thể hiện sự chia sẻ giản dị, đó là củ sắn lùi, đó là bát cơm sẻ nửa, chiếc chăn vỏ cây sần sùi. Nhưng trong lúc bấy giờ, chúng là hiện thân của cách mạng, mặc dù chẳng đáng bao nhiêu nhưng chúng cũng đã san sẻ, cùng gánh vác nhiệm vụ, nghĩa tình càng nặng thêm đẹp hơn trong cuộc sống gian nan thiếu thốn. Tình thương đã đem đến cho họ sức mạnh để chiến đấu chiến thắng.

– Hình ảnh cuộc sống gian khổ đói nghèo, cực nhọc của người Việt Bắc trong những công việc thầm lặng hằng ngày, góp phần phục vụ cách mạng đã trở thành nỗi xót xa trong lòng người đi:

            “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

     Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.

Hai câu thơ là hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của người Việt Bắc, những người mẹ địu con cùng đi làm rẫy, làm nương. Công việc vất vả nhưng đổi lại là thành quả lao động chỉ là từng bắp ngô nhỏ nhoi, ít ỏi góp phần phục vụ cho  kháng chiến. Điều đó càng làm tăng thêm nỗi xót thương, cảm phục trong lòng người ra đi.

d. 6 câu tiếp: cuộc sống kháng chiến gian khổ vui tươi mà lạc quan

“Nhớ sao lớp học i tờ

               Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

             Nhớ sao ngày tháng cơ quan

 Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

                 Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

           Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

Người ra đi không chỉ nhớ những hình ảnh cuộc sống cơ cực, gian nan mà còn in đập những kỉ niệm đẹp đẽ thân thương, nếp sống yên bình thơ mộng của cuộc sống núi rừng. Đó là những lớp bình dân học vụ xóa nạn mù chữ ngày kháng chiến. Đó là những đêm liên hoan đầm ấm giữa người dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến; những âm thanh tha thiết của tiếng ca vang núi đèo; nhớ những cảnh tượng bình dị, thân thuộc qua âm thanh của tiếng mõ rừng chiều, tiếng chày đêm, tiếng suối thoảng xa. Những âm thanh ấy vừa gợi cảm giác êm đềm, vừa phảng phất sự hoang vắng, thô sơ thể hiện tình cảm thắm thiết, nỗi nhớ thương sâu đậm, xuyến xao bùi ngùi của người đi đối với con người và thiên nhiên nơi chiến khu Việt Bắc. Tất cả đã làm nên một bài ca trong trẻo.

– Nghệ thuật:

+ Hình ảnh thơ đậm tính dân tộc

+ Ngôn từ mộc mạc

+ Sử dụng linh hoạt cặp đại từ “mình – ta”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.