Phân tích thơ Tây Tiến chi tiết nhất (Phần 1)

“Tây Tiến, nơi cả con người Tây Tiến, chiến sĩ Tây Tiến, núi rừng Tây Tiến đã vượt qua những cảm quan ban đầu của hồn thơ Quang Dũng để đến với đại ngàn thi hứng”. Với khí thế sôi sục của những năm mưa bom bão đạn, văn học và sứ mệnh thiêng liêng của nó, đã khắc tạc một cách sống động bức tượng dài của những người chiến sĩ anh dũng, kiên trung….
I. Khái quát tác giả, tác phẩm.
1. Tác giả.
– Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc.
– Phong cách: là hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa.
2. Tác phẩm.
– Hoàn cảnh sáng tác: năm 1948 tại Phù Lưu Chanh.
– Tìm hiểu về đơn vị Tây Tiến:
+ Thành lập: mùa xuân 1947.
+ Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào để đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp, bảo vệ biên giới Việt – Lào.
+ Địa bàn: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa.
+ Điều kiện sinh hoạt: khó khăn, thiếu thốn.
– Bố cục: 3 phần
+ Phần 1 (14 câu đầu): Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh hùng vĩ hoang sơ.
+ Phần 2 (8 câu tiếp): Những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền tây thơ mộng.
+ Phần 3 (8 câu cuối): Chân dung người lính Tây Tiến.
II. Phân tích.
1. 14 câu đầu.
Nhắc đến Lưu Quang Dũng, người đọc sẽ nghĩ ngay đến nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ, phong cách của QD. Được sáng tác năm 1948 khi ông chuyển sang đơn vị khác tại Phù Lưu Chanh.
Bài thơ đã khắc hoạn thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh thiên nhiên hùng vĩ hoang sơ, dữ dội và mỹ lệ được thể hiện rõ nét nhất qua 14 câu đầu của bài thơ.
a. Hai câu thơ đầu.
                                                   “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
                                                    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
– Hai câu thơ là khúc dạo đầu của nỗi nhớ nhung da diết về đơn vị cũ, đồng đội cũ của QD. Câu thơ chia thành hai vế được ngắt theo nhịp 4/3 với sự hiện diện của miền Tây và trung đoàn Tây Tiến. Sông Mã là dòng sông chảy dọc theo biên giới Việt Lào, vừa là một cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ đồng thời là hình ảnh của miền Tây Thanh Hóa. Hơn thế nữa, sông Mã là dòng sông gắn liền với những chặng đường hành quân của người lính Tây Tiến, cùng chứng kiến chia sẻ những buồn vui, đong đầy kỉ niệm của người lính. Vì vậy, khi nhớ về Tây Tiến, QD đã nhắc tới sông Mã như một biểu tượng đầu tiên của nỗi nhớ. Nhịp 4/3 cho thấy khoảng lặng, sự trống trải khi đã xa binh đoàn, xa sông Mã để nỗi nhớ ùa về trong tiếng gọi tha thiết “Tây Tiến ơi”. Tiếng gọi không được dừng lại ở câu 1 mà như được ngân nga kéo dài tiếp nối trong vần “ơi” của từ láy “chơi vơi” ở câu 2. Phép điệp vần tinh tế khiến tiếng gọi trở nên tha thiết, bâng khuâng.
– Sau tiếng gọi bâng khuâng da diết, nỗi nhớ ồ ạt, trào dâng trong câu thơ thứ hai. Từ “nhớ” được điệp lại 2 lần đứng đầu hai vế câu diễn tả nỗi nhớ miên man da diết, không thể nguôi ngoai, đó là nỗi nhớ về “rừng núi”, mênh mông nỗi nhớ còn vương về những năm tháng quá khứ đầy kỉ niệm và những đồng đội thân yêu. Câu thơ còn nhấn mạnh sắc thái của nỗi nhớ “chơi vơi”. Nhớ chơi vơi gợi cảm giác về một nỗi nhớ vô hình, mơ hồ, đầy ám ảnh.
=> Như vậy hai câu thơ đầu đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của bài thơ đó là nỗi nhớ da diết về người lính Tây Tiến, về miền Tây và những kỉ niệm không thể nào quên.
b. 6 câu thơ tiếp:
Bức tranh thiên nhiên miền Tây heo hút hùng vĩ nhưng hết sức thơ mộng.
– Sương ở Sài Khao:
Nét đặc sắc đầu tiên của thiên nhiên miền Tây trong kí ức QD là sương rừng mờ ảo phủ dày ở Sài Khao, sương bồng bềnh ở Mường Lát, dó không chỉ là sương của thiên nhiên mà còn là màn sương mờ của kỉ niệm, của nỗi nhớ thương.
                                         “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
                                             Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
+ Bút pháp hiện thực trong câu thơ trên miêu tả chân thực sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Tây qua hình ảnh “sương lấp đoàn quân mỏi”. Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào từ “lấp”, đây là một động từ gợi tả màn sương rừng dày đặc che kín cả đoàn quân khiến con đường hành quân của lính Tây Tiến thêm nhiền gian nan.
+ Khác với câu thơ trên, hiện thực khắc nghiệt đã được thi vị hóa bởi cảm hứng lãng mạn “đêm sương” thành “đêm hơi” bồng bềnh. Những ngọn đuốc soi đường cho lính hành quân được nhìn như những đóa hoa lung linh. Còn có thể hiểu “hoa về” trong “đêm hơi” là những bông hoa rừng phảng phất theo bước chân chiến sĩ. Câu thơ tái hiện được trạng thái mơ mộng, bay bổng trong tâm hồn người lính, phần nào xua tan đi cái khắc nghiệt của thiên nhiên.
– Nhớ đến miền Tây, QD không thể nào quên sự hiểm trở và hùng vĩ của những dốc núi. Ba câu thơ tiếp theo đã miêu tả khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và hiểm trở qua đồ làm hiện lên cuộc hành quân gian lao vất vả nhưng ý chí kiên cường tràn đầy tinh thần lạc quan nhưng ý chí kiên cường tràn đầy tinh thần lạc quan.
                                      “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
                                          Heo hút cồn mây súng ngửi trời
                                       Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
+ Câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” trực tiếp miêu tả dốc núi miền Tây trập trùng hiểm trở. Trong một câu thơ bảy chữ mà có tới 5 thanh trắc đã tạo ra âm hưởng gập ghềnh của những dốc núi miền Tây khiến người đọc có thể hình dung ra phần nào cuộc hành quân gian truân vất vả của người lính Tây Tiến trong địa hình hiểm trở này.
● Câu thơ ngắt nhịp 4/3 với từ “dốc” điệp lại ở đầu hai vế câu đã thể hiện sự trùng điệp nối tiếp tưởng như đến vô tận của những dốc núi miền Tây như muốn thử thách ý chí nghị lực của người lính.
● Sự hiểm trở của dốc núi miền Tây trong ý nghĩa gợi hình và biểu cảm của các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”. Từ láy “khúc khuỷu” miêu tả sự gồ ghề, gập ghềnh của dốc núi, còn từ láy “thăm thẳm” lại gợi độ cao hun hút cuat những vách núi, độ sâu.
+ Dốc núi miền Tây còn được gợi tả gián tiếp trong câu thơ “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Với việc tô đậm ấn tượng về độ cao chót vót của những vách núi. Từ láy “heo hút” vừa gợi cao lại gợi vắng, lại được đứng ở đầu câu thơ, nhờ biện pháp đảo ngữ nhằm nhấn mạnh sự hoang sơ, thăm thẳm như vô tận của dốc núi trong cảm nhận của lính Tây Tiến, “cồn mây” là một ẩn dụ đặc sắc cho thấy mây núi chồng chất dựng lên thành dốc như lẫn vào nhau khiến ta có cảm tưởng con đường như lẫn vào mây, con đường hành quân càng thêm cheo leo, hiểm trở, hoang vu. Cụm từ “súng ngửi trời” vừa gợi tả được độ cao của dốc núi khi người lính đứng trên đỉnh núi khi người lính đứng trên đỉnh núi, mũi súng như chạm tới trời. Như vậy, địa hình heo hút hiểm trở đã làm tăng thêm những gian truân, vất vả cho người lính trên chặng đường hành quân nhưng người lính bằng tinh thần lạc quan, tếu táo, hóm hỉnh trong hình ảnh nhân hóa “súng ngửi trời” đã cho thấy vẻ đẹp coi thường gian lao vất vả trẻ trung yêu đời. Câu thơ cho thấy dáng vẻ hiên ngang kiêu dũng của người chiến binh Tây Tiến.
+ Dốc núi miền Tây còn được tiếp tục miêu tả trong câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” với những nét vẽ rất gân cốt, gồ ghề.
● Điệp từ “ngàn thước” là một ước lệ nhằm khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, kì thú của núi rừng miền Tây, bên cạnh đó các động từ “lên, xuống” trong hai vế câu đã tạo ra cảm giác những dốc núi vút lên cao, rồi đổ xuống đột ngột, nhịp ngắt 4/3 diễn tả chính xác trạng thái đối lập lên cao >< xuống thấp của dốc núi đem đến cảm nhận về sự dữ dội của thiên nhiên. Câu thơ cho thấy nét tài hoa tinh tế của QD khi miêu tả độ cao của dốc, độ sâu của vực.
=> Ba câu thơ giàu chất tạo hình và biểu cảm dốc núi miền Tây được khắc họa đồng thời cả sự hiểm trở lẫn vẻ đẹp hùng vĩ, kì thú. Thồn qua bức tranh thiên nhiên được cảm nhận qua những trải nghiệm của người lính trên đường hành quân, ta thấy được tâm hồn người lính, họ lạc quan, coi thường khó khăn, vất vả, yêu đời, trẻ trung, ý chí hiên ngang bất khuất.
– Sau những câu thơ miêu tả những nhọc nhằn của sương lấp và dốc núi, câu thơ tả mưa ở Pha Luông đã đem đến cho ta một cảm nhận khác thú vị về một thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội, hoang vu:
                                                “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
“Mưa xa khơi” có thể coi là một ẩn dụ cho thấy cả thung lũng đang mịt mờ trong biển mưa. Sau những chặng đường hành quân gian khổ, người lính dừng chân tại một thung lũng bên một bản làng, bắt gặp cả núi rừng chìm trong mưa, cảm nhận những ngôi nhà ở Pha Luông đang bồng bềnh thấp thoáng trong màn mưa. Sắc thái phiến chỉ của đại từ “ai” khiến những ngôi nhà trở nên mơ hồ, xa xăm và mênh mang trong nỗi nhớ. Tuy nhiên giữa cơn mưa rừng mênh mông, buốt lạnh thì hình ảnh ngôi nhà gợi cảm giác ấm áp, bình yên làm trào dâng nỗi nhớ nhung của những người lính xa quê.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.