Phân tích thơ Tây Tiến dễ hiểu nhất (Phần 2)

“Tây Tiến, nơi cả con người Tây Tiến, chiến sĩ Tây Tiến, núi rừng Tây Tiến đã vượt qua những cảm quan ban đầu của hồn thơ Quang Dũng để đến với đại ngàn thi hứng”. Với khí thế sôi sục của những năm mưa bom bão đạn, văn học và sứ mệnh thiêng liêng của nó, đã khắc tạc một cách sống động bức tượng dài của những người chiến sĩ anh dũng, kiên trung….

II. Phân tích.

1. 14 câu đầu

c. 6 câu tiếp

Ở 6 câu thơ này, QD tiếp tục khắc họa thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ qua những chặng đường hành quân gian khổ của người lính, người đã chiến thắng bằng vẻ đẹp tinh thần đó là lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan yêu đời.

– Sự vất vả, gian truân cũng như vẻ đẹp trong tâm hồn người lính được thể hiện qua hai câu thơ:

                                                “Anh bạn dãi dầu không bước nữa

                                                Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Từ láy “dãi dầu” đã thể hiện tất cả những vất vả của các anh khi hành quân, phải vượt qua những núi cao vực sâu, thác ghềnh dữ dội, qua những nắng mưa sương gió, họ kiệt sức, gục ngã, không thể bước tiếp cùng đồng đội. Tuy nhiên, có thể thấy người lính gục xuống khi đang đi lúc hành quân nhưng súng mũ vẫn bên mình, dù không vượt qua được khó khăn nhưng họ không thoái lui dừng bước, không rời bỏ đội ngũ. Với cách diễn đạt của các cụm từ “không bước nữa”, “bỏ quên đời”, QD đã làm hiện lên sự chủ động, kiêu bạt, ngang tàn của người lính, coi cái chết thanh thản, nhẹ nhàng. Như vậy, hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh được nhà thơ biểu hiện bằng cách nói thật lãng mạn, từ đó làm nổi bật tinh thần dũng cảm của người lính, đó là một vẻ đẹp hào hùng.

– Vẻ hoang dại, dữ dội chưa nhiều bí mật ghê gớm của núi rừng miền Tây còn được nhà thơ trực tiếp khắc họa qua hai câu thơ:

                                                “Chiều chiều oai linh thác gầm thét

                                                Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“Chiều chiều” và “đêm đêm” là khoảng thời gian mà cảnh núi rừng thể hiện rõ nhất sự hoang vi bí hiểm, chứa đầy những đe dọa khủng khiếp đối với con người. Cảnh núi rừng hoang sơ, hùng vĩ qua ngòi bút QD hiện lên với đầy đủ những núi cao, vực sâu, thác gầm, cọp dữ. “Thác gầm thét” và “cọp trêu người” là hai hình ảnh nhân hóa làm tăng thêm sự dữ dội, hoang sơ đầy bí hiểm của núi rừng. Bút pháp đối lập được nhà thơ sử dụng rất tinh tế (oai linh thác gầm thét, cọp trêu người), gợi hình dung những thác nước man rợ ở trên cao và những bước chân nặng nề của thú dữ, gợi cái thâm u, bí ẩn của rừng sâu từ đó làm toát lên sức mạnh thiên nhiên khủng khiếp đã ngự trị nơi núi rừng miền Tây. Ấy thế mà, người lính phải hành quân qua những chặng đường nguy hiểm như thế. Hai câu thơ miêu tả ấn tượng về miền Tây càng hiểm nguy, càng kiến hình tượng người lính trở nên hào hùng, mạnh mẽ. Động từ “trêu” cho thấy tất cả những nguy hiểm là những thử thách mà họ phải vượt qua chứ không đe dọa được tinh thần họ, thậm chí họ đã trêu đùa lại thiên nhiên bằng tinh thần lạc quan, lòng dũng cảm.

– Con đường hành quân không chỉ có gian truân vất vả mà còn có cả những kỉ niệm ngọt ngào, thắm thiết ân tình:

                                                “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

                                                Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Câu thơ mở đầu bằng cụm từ cảm thán “nhớ ôi” bộc lộ cảm xúc nhớ nhung trào dâng mãnh liệt về miền Tây, về bản làng Mai Châu. Hai câu thơ gợi cảnh tượng thật đầm ấm sau bao nhiêu gian khổ, băng rừng vượt núi, lội suối trèo đèo, người lính tạm thời dừng chân bên một bản làng với bát cơm mới thơm ngào ngạt cùng làn khói bếp ấm áp. Khói thơ nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tanmeejt mỏi trên gương mặt người lính, đêm đến cho họ cảm giác thanh bình hiểm hoi. Câu thơ “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” gợi ra nhiều cách hiểu: có thể hiểu người lính dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi ngào ngạt hương nếp đầu mùa từ bàn tay nhẹ nhàng của các cô gái Mai Châu. Cũng có thể hiểu câu thơ có một nét nghĩa lãng mạn từ hai chữ “mùa em”. Với hai chữ “mùa em” một cách tài tình và tinh tế, QD đã khiến cho Mai Châu không chỉ là địa danh gắn với kỉ niệm thơm thảo của xôi nếp đầu mùa, của tình quân dân sâu nặng mà còn gợi nhớ tới hình ảnh những cô gái miền Tây duyên dáng khiến họ không thể nào quên.

=> Hương thơm nếp xôi đầu mùa ở Mai Châu mãi là một kỉ niệm khó quên về tình quân dân ấm áp trong cuộc đời của người lính chiến, là hành trang tinh thần, thôi thúc người lính chiến đấu và chiến thắng.

  1. 8 câu tiếp.

Kỷ niệm về đêm liên hoan văn nghệ thắm tình quân dân và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

Tám câu thơ tái hiện những ấn tượng sâu sắc về một đêm liên hoan thắm tình quân dân, nỗi nhớ của nhà thơ về ngươi và cảnh sông nước miền Tây. Thông qua những kỉ niệm và nỗi nhớ ấy, QD đã khắc họa sinh động vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến.

a. 4 câu thơ đầu: đêm liên hoan

Đây là những câu thơ miêu tả những ấn tượng sâu sắc, những cảm nhận tinh tế của người lính Tây Tiến về một đêm liên hoan văn nghệ thắm tình quân dân qua những câu thơ:

                                                “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

                                                Kìa em xiêm áo tự bao giờ

                                                Khèn lên man điệu nàng e ấp

                                                Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Câu thơ “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” tựa như một tiếng reo vui. Cả doanh trại bừng sáng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Nghệ thuật ẩn dụ “hội đuốc hoa” và cảm hứng lãng mạn đã khiến ánh lửa đuốc bập bùng trở thành hội đuốc hoa rực rỡ gợi những liên tưởng thi vị, tình tứ đem đến niềm vui náo nức, rạo rực lòng người (liên tưởng đến nến thắp trong phòng vợ chồng đêm tân hôn), niềm vui ấy khiến đêm liên hoan trở thành một đêm hội tưng bừng. Cụm từ “bừng lên” đem đến ấn tượng về ánh sáng của lửa đuốc, xủa tan đi tăm tối lạnh lẽo nơi núi rừng đồng thời còn thể hiện niềm vui sướng trong lòng người đang bừng lên. Hình ảnh trung tâm của hội đuốc hoa là các thiếu nữ miền sơn cước trong những bộ váy áo rực rỡ sắc màu. “Kìa em xiêm áo tự bao giờ”, từ “kìa” và cụm từ nghi vấn “tự bao giờ” bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên, ngỡ ngàng đồng thời là thái độ ngưỡng mộ trìu mến của người lính trước sự xuất hiện của các cô gái. Các cô gái hiện lên với hai ấn tượng: xiêm áo lộng lẫy và nét e ấp đầy nữ tính. Những ấn tượng ấy khiến các cô đẹp hơn trong mắt người lính. Người lính Tây Tiến không chỉ ngỡ ngàng thú vị trước vẻ đẹp của người thiếu nữ miền Tây e ấp duyên dáng mà còn mơ màng trong những man điệu núi rừng. Man điệu là những giai điệu say đắm ngọt ngào, hoang sơ bí ẩn đối với những người lính Tây Tiến. Với tâm hồn hào hoa, nhạy cảm với cái đẹp, người lính Tây Tiến say mê cảm nhận những hình ảnh rực rỡ (lửa đuốc bập bùng, xiêm áo rực rỡ), nhưng âm thanh ngọt ngào của đêm liên hoan khiến tâm hồn lính Tây Tiến bay bổng mơ mộng để thiêu dệt lên những mộng đẹp xây hồn thơ.

                                                “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Tiếng kèm, điệu múa sẽ là động lực thôi thúc người lính chiến đấu và chiến thắng giúp họ mơ lên biết bao mộng đẹp, đó là giấc mộng chiến chinh, chiến thắng giúp họ vững bước trên những chặng đường tiếp theo.

– NT:

+ Ẩn dụ

+ Động từ “bừng”

+ Thán từ “kìa em”

+ Sử dụng ngôn từ độc đáo

=> Giàu tính nhạc, bốn câu thơ ngân nga như nhạc điệu tiếng hát cất lên từ tâm hồn ngây ngất, mê say của người lính. Chất thơ, chất nhạc hòa quyện với nhau, vì vậy, Xuân Diệu cho rằng “đọc những câu thơ này như ngậm nhạc trong miệng”.

b. 4 câu sau: cảnh sông nước miền Tây thơ mộng

Nếu cảnh đêm liên hoan gợi ra không khí mê say, ngây ngất thì cảnh sông nước miền Tây lại gợi ra cảm giác mênh mang, thơ mộng, huyền ảo:

                                                “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                                Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

                                                Có nhớ dáng người trên độc mộc

                                                Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Bốn câu thơ là nỗi nhớ mênh mông da diết về sông nước và con người miền Tây.

– Câu thơ “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy” như một lời nhắn nhủ tha thiết. Nỗi nhớ miền Tây được gửi vào lời nhắn nhưng thực ra nhà thơ đang để lòng mình da diết hướng về Châu Mộc, về núi rừng trong một chiều sương, sương nhạt nhòa, huyền ảo của núi rừng, sương của hoài niệm, của nỗi nhớ nhung lưu luyến. Sau lời nhắn nhủ tha thiết, nỗi nhớ đã cất lên thành tiếng. Câu hỏi tu từ “có thấy hồn lau”, “có nhớ dáng người” đã thể hiện nỗi nhớ nhung đầy trăn trở hướng về cảnh và người miền Tây. Câu hỏi thứ nhất hướng về thiên nhiên, về những hàng lau phơ phất buồn bên bờ sông hoang dã “nẻo bến bờ”. Hình ảnh ẩn dụ “hồn lau: đã gợi lên được cái đẹp huyền ản của thiên nhiên đồng thời còn gợi lên được cái hồn của tạo vật, khiến thiên nhiên sống động, có hồn như biết chia sẻ nỗi buồn với con người. Cụm từ “nẻo bến bờ” gợi không gian hoang vu hiu quạnh. Câu thơ cho thấy sự tinh tế tài hoa của QD trong cách sử dụng ngôn từ, QD không tả mà chỉ gợi, cảnh thiên nhiên qua ngòi bút của ông như có hồn, đẹp gợi cảm.

Câu hỏi hướng về con người, con người miên Tây hiện lên như một bóng dáng mờ xa huyền ảo. Với từ “dáng”, người miền Tây hiện lên với vẻ đẹp mềm mại, uyển chuyển, duyên dáng. Dáng người ấy cũng cứng cỏi, kiên cường vững chãi trên con thuyền “độc mộc” đang trôi đi giữa thác lũ.

– Vẻ đẹp duyên dáng của con người cũng được tái hiện trong hình ảnh ẩn dụ “hoa đong đưa”. Nếu từ láy “đung đưa” gợi hình hơn biểu cảm và chủ yếu gợi tả những cảnh hoa dập dềnh đôi bờ sông, thì hình ảnh “hoa đong đưa” còn đưa đến những liên tưởng thú vị về dáng vẻ mềm mại tình tứ của con người miền Tây, đây là một sáng tạo tài hoa về ngôn từ thể hiện chất lãng mạn đặc sắc của hồn thơ QD.

– NT:

+ Sử dụng ngôn từ độc đáo: hồn lau, dáng, hoa đong đưa

+ Điệp cấu trúc

+ Câu hỏi tu từ

+ Ẩn dụ “hoa đong đưa”

+ Chất họa, chất thơ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.